Một số điểm mới của dự thảo nghị định quy định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân 2026
Ngày 27/03/2026, Bộ Tài chính đã công bố và lấy ý kiến Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025. Theo đó, Bộ Tài chính có kèm theo Tờ trình Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân

Trong đó, một số điểm mới của Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật thuế TNCN như sau:
1. Về thu nhập chịu thuế và căn cứ tính thuế đối với một số loại thuế
a) Về thu nhập từ tiền lương, tiền công và các khoản giảm trừ
Bổ sung quy định không tính vào thu nhập chịu thuế các phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chỉ trả theo quy định tại Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15.
(Nội dung quy định tại điểm g khoản 3 Điều 8 dự thảo Nghị định).
b) Về bổ sung quy định về khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế của cá nhân.
Bộ Tài chính đã xây dựng 02 phương án về nội dung này như sau:
Phương án 1: Căn cứ vào mức chi tiêu bình quân y tế, giáo dục – đào tạo theo số liệu được cung cấp đến thời điểm 2026, đảm bảo phù hợp với mức chỉ tiêu bình quân theo số liệu được cung cấp và phù hợp với thông lệ quốc tế:
“Điều 50. Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác
...
2. Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế bao gồm:
a) Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước không quá 20 triệu đồng/năm, trừ các khoản chi cho các trường hợp quy định tại Điều 23 Luật Bảo hiểm y tế.
b) Các khoản chi cho giáo dục – đào tạo tại cơ sở giáo dục – đào tạo trong nước không quá 21 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục – đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục – đào tạo."
Phương án 2: Dự trù cho một số năm tiếp theo và đảm bảo phù hợp với mức chi tiêu bình quân theo số liệu được cung cấp và phù hợp với thông lệ quốc tế:
“Điều 50. Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác
...
2. Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế bao gồm:
a) Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước không quá 23 triệu đồng/năm, trừ các khoản chi cho các trường hợp quy định tại Điều 23 Luật Bảo hiểm y tế.
b) Các khoản chi cho giáo dục – đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục – đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục – đào tạo."
...
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 49 dự thảo Nghị định).
c) Về thu nhập khác
Tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết các khoản thu nhập khác bao gồm: Thu nhập từ chuyển nhượng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn"; thu nhập từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các bon của cá nhân sở hữu chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các bon; thu nhập từ chuyển nhượng biển số xe trúng đấu giá theo quy định của pháp luật được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân (x) với thuế suất 5%. Trong đó, thu nhập tính thuế là phần thu nhập vượt trên 20 triệu đồng mà người nộp thuế nhận được theo từng lần phát sinh.
Đối với thu nhập từ chuyển nhượng biển số xe trúng đấu giá, thu nhập tính thuế là phần vượt trên 20 triệu đồng của giá chuyển nhượng (bao gồm cả xe gắn với biển số trúng đấu giá) trừ (-) đi giá trị còn lại của xe theo giá tính lệ phí trước bạ tại thời điểm chuyển nhượng.
Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số bao gồm tài sản ảo, tài sản mã hóa và các tài sản số khác theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số.
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm tổ chức, cá nhân chỉ trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 16, Điều 62 dự thảo Nghị định).
2. Về thu nhập được miễn thuế, giảm thuế
a) Bổ sung quy định miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ lợi tức cổ phần của thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp, cá nhân là nông dân ký kết hợp đồng với doanh nghiệp tham gia “Cánh đồng lớn”, trồng rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản theo quy định của Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15.
Trong đó quy định cụ thể cá nhân tham gia “Cánh đồng lớn”, trồng rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng các điều kiện sau: Có quyền sử dụng đất, quyền thuê đất, quyền sử dụng mặt nước, quyền thuê mặt nước, quyền thuê đất có mặt nước hợp pháp để tham gia “Cánh đồng lớn”, trồng rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản (bao gồm cả trường hợp đi thuê lại đất, mặt nước, đất có mặt nước của tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật); Thực tế có nơi cư trú tại địa phương nơi diễn ra hoạt động “Cánh đồng lớn”, trồng rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản.
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 22 dự thảo Nghị định).
b) Bổ sung quy định miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải, chuyển nhượng tín chỉ các bon lần đầu sau khi phát hành của cá nhân được cấp chứng chỉ giảm phát thải, tín chỉ các bon; thu nhập từ tiền lãi trái phiếu xanh; thu nhập từ chuyển nhượng trái phiếu xanh lần đầu sau khi phát hành theo quy định của Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15.
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 34 dự thảo Nghị định).
c) Bổ sung quy định miễn thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công từ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định củа Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15.
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 35 dự thảo Nghị định).
d) Bổ sung quy định miễn thuế đối với thu nhập từ quyền tác giả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khi kết quả nhiệm vụ được thương mại hóa theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15.
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 36 dự thảo Nghị định).
đ) Bổ sung quy định miễn thuế đối với thu nhập của nhà đầu tư cá nhân, chuyên gia từ dự án khởi nghiệp sáng tạo, sáng lập viên cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, nhà đầu tư cá nhân góp vốn vào quỹ đầu tư mạo hiểm theo quy định của Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15
Nội dung này được quy định cụ thể tại dự thảo Nghị định như sau:
- Miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ đầu tư vốn của nhà đầu tư cá nhân nhận được từ dự án khởi nghiệp sáng tạo, sáng lập viên doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, nhà đầu tư cá nhân góp vốn vào quỹ đầu tư mạo hiểm.
- Miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của chuyên gia hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo từ dự án khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Việc xác định dự án khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, chuyên gia hỗ trợ, khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm theo pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 37 dự thảo Nghị định).
e) Bổ sung quy định miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của chuyên gia nước ngoài làm việc tại chương trình, dự án tài trợ bằng nguồn vốn ODA không hoàn lại, chương trình, dự án phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam; cá nhân là người Việt Nam làm việc tại cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế thuộc Hệ thống Liên hợp quốc tại Việt Nam; cá nhân tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc theo quy định của Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15.
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 38 dự thảo Nghị định).
g) Bổ sung quy định miễn thuế đối với thu nhập sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của cá nhân là chủ doanh nghiệp tư nhân, cá nhân là chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo quy định của Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15.
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 39 dự thảo Nghị định).
h) Bổ sung quy định miễn thuế TNCN trong thời hạn 05 năm đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân là nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 41 dự thảo Nghị định).
i) Bổ sung quy định miễn thuế TNCN trong thời hạn 05 năm đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân là nhân lực công nghệ cao thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược tương ứng thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển hoặc Danh mục công nghệ chiến lược, Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược theo quy định của Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 42 dự thảo Nghị định).
k) Bổ sung quy định miễn thuế TNCN đối với chuyển nhượng chứng chỉ quỹ mở thành lập theo pháp luật chứng khoán được năm giữ từ 2 năm trở lên kể từ ngày mua theo quy định của Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15.
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 43 dự thảo Nghị định).
i) Bổ sung quy định giảm 50% thuế TNCN đối với thu nhập từ lợi tức của nhà đầu tư cá nhân được chia từ quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư bất động sản thành lập theo Luật Chứng khoán trong 05 năm kể từ ngày 01/7/2026 đến hết ngày 30/6/2031.
(Nội dung quy định cụ thể tại Điều 44 dự thảo Nghị định).
3. Các nội dung lược bỏ
Điều 27 về đăng ký thuế, cấp mã số thuế, Điều 31 về trách nhiệm khấu trừ, khai thuế, công bố thông tin của tổ chức trả thu nhập, tổ chức nơi cá nhân chuyển nhượng vốn, tổ chức lưu ký, phát hành chứng khoán, tổ chức Việt Nam ký hợp đồng mua dịch vụ của nhà thầu nước ngoài không hoạt động tại Việt Nam tại Nghị định hiện hành để thực hiện thống nhất theo pháp luật về quản lý thuế. Đồng thời cùng với các nội dung tại các Điều 28 về khấu trừ thuế, Điều 29 về các trường hợp không thực hiện khấu trừ thuế, Điều 30 về khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, Điều 32 về hoàn thuế đã kết cấu lại theo hướng quy định nguyên tắc chung tại Điều 67, Điều 68 dự thảo Nghị định và dẫn chiếu thực hiện thống nhất theo pháp luật quản lý thuế.




